Mittwoch, 16. Juni 2010

Vẫn chưa thấy bóng Ông

 

Nguyễn Khanh, biên tập viên RFA
2010-06-14

Trước ngày tôi bước lên máy bay rời Washington DC sang Nam Phi, phòng báo chí FIFA nói ông sẽ có mặt dự trận mở màn và trận chung kết.

Photo courtesy of worldcupsa.org

Ông Nelson Mandela tại Zurich - Thụy Sĩ hôm 15/05/2004, lúc Nam Phi vừa được tuyên bố là nước tổ chức Vòng Chung Kết World Cup 2010.

Vừa đặt chân đến Johannesburg được vài giờ đồng hồ, tin tức truyền thật nhanh ở Trung Tâm Báo Chí cho hay vì chuyện không may xảy đến với gia đình nên ông sẽ không có mặt.

Nelson Mandela

Ông đây là ông Nelson Mandela, người tôi được nghe nói đến và mong một lần được gặp ngay ở quê nhà của ông.

Lần đầu tiên tôi được nghe kể về ông cách đây cũng đã gần 30 năm. Lúc đó vừa bước chân vào nghề báo ở Mỹ, làm việc ngay tại Washington D.C. và ngày ngày thấy cả thủ đô chính trị thế giới xôn xao về tình hình Nam Phi. Với tôi, địa danh Nam Phi là một địa danh xa lạ, nhưng thấy mọi người ồn ào thì mình cũng ồn ào theo, ra vẻ là nhà báo biết chuyện chứ không hẳn muốn chú tâm về một quốc gia và một nhân vật không tí ti gần gũi.

Người kể cho tôi nghe chuyện về Nelson Mandela là một du khách từ Đức sang, từng làm việc cho Phòng Thanh Tra Bộ Giáo Dục của Đức và lúc đó giữ chức cố vấn cho Bộ Giáo Dục Nam Phi. Tôi nhớ như in buổi gặp gỡ tình cờ ở cafeteria của Quốc Hội lúc Bà và tôi đứng xếp hàng mua nước uống, và không thể nào quên câu Bà bảo “Nam Phi đang chuyển mình, sớm muộn gì cũng sẽ thay đổi”. Người tạo thay đổi cho đất nước đó là “một nhân vật đang ngồi tù tên Nelson Mandela”.

Đó lần đầu tiên tôi được nghe nói về ông. Năm 1990 khi ông ra khỏi tù, hình ảnh tù nhân chính trị gầy gò, lưng đã bắt đầu còng phải sống gần 30 năm trời trong trại giam được chiếu trên các đài truyền hình và ngày hôm sau đăng ngay giữa trang nhất của mọi tờ báo. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy ông, thấy biểu tượng của phấn đấu bền bỉ cho công bằng và lẽ phải. Vài năm sau đó chế độ kỳ thị chủng tộc apartheid cáo chung, ông được người dân chọn làm Tổng Thống để đưa đất nước sang một thời kỳ hoàn toàn mới mà mọi người tin chỉ có ông mới xứng đáng để dẫn dắt quốc gia.

Mãi đến năm 2000 tôi mới được gặp ông lần đầu. Lúc đó ông hướng dẫn đoàn đại diện cho Nam Phi sang Thụy Sĩ để mở vận động xin được tổ chức World Cup. Trong thời gian 3 ngày ở Lausanne, ông lúc nào cũng mặc chiếc áo hoa tiêu biểu cho xứ sở, lưng còng hơn trước, đứng trình bày với mọi người về những lý do tại sao nên chọn Nam Phi cho cuộc tranh tài thể thao lớn và quan trọng nhất thế giới.

Điều khiến tôi phải chú ý chính là những câu chuyện ông kể về thời gian bị cầm tủ ở Robben Island, khi ông và một số tù nhân khác quyết định thành lập những hội bóng tròn, “ngày ngày ra sân để quên những khó nhọc anh em chúng tôi phải chịu đựng”.

Trong một cuộc phỏng vấn, ông nhỏ nhẹ bảo “đá banh không chỉ là liều thuốc giúp chúng tôi qua được nhọc nhằn trong trại giam, mà còn là nhịp cầu nối kết giữa hiện tại và tương lai”. Ông kể lại cho cả thế giới nghe “lúc ngồi nghỉ giải lao, anh em chúng tôi ghé vào tai nhau để bàn chuyện quốc sự, và trong những lần bàn thảo đó chúng tôi đã nghĩ sẽ có ngày mình ra khỏi trại tù này, và lúc đó sẽ xin FIFA cho tổ chức World Cup”. Cũng ông chứ chẳng phải ai khác: “Trời chẳng đóng cửa ai đâu, cứ tin, cố gắng và nhẫn nại cuối cùng sẽ được. Chính cố gắng, nhẫn nại và niềm tin đã giúp tôi sống qua những ngày tháng trong lao tù, cũng những những điều này đã khiến người dân Nam Phi không bỏ cuộc, kể cả cuộc vận động để được tổ chức World Cup”.

Các cổ động viên trên khán đài sân Soccer City ở Johannesburg - 
Nam Phi  trước giờ khai mạc World Cup 2010 hôm 12-06-2010. Photo 
courtesy of vtc.vn/Đức Trung.

Các cổ động viên trên khán đài sân Soccer City ở Johannesburg - Nam Phi trước giờ khai mạc World Cup 2010 hôm 12-06-2010. Photo courtesy of vtc.vn/Đức Trung.

Ước mơ đó bây giờ đã thành sự thật. Trái banh đã lăn tròn trên sân World Cup 2010, và cả thế giới đang ăn, ngủ, nói chuyện, nằm mơ cùng với Nam Phi, với ước mong ông nuôi dưỡng từ những ngày dẫn đội banh khi còn ở trong tù, khi cùng những người đồng cảnh ngộ ra sân đá quả banh trên mảnh sân gồ ghề, đất rắn, không có mấy cọng cỏ của trại giam.

Công đầu đương nhiên phải dành cho ông.

Tôi mong được gặp ông và ước gì được ngồi thưa chuyện với ông. Tôi sẽ kể cho ông nghe về đất nước của tôi, nơi cũng có những người đang sống trong cảnh ông đã trải qua, và dù tên tuổi của họ không được thế giới biết đến hoặc được ca tụng như ông, nhưng có lẽ họ cũng đang nuôi một ước mơ y hệt như ước mơ của ông thủa nào.

Cha già của dân tộc

Tôi mong có cơ hội để thưa với ông rằng những người tôi sẽ kể cho ông nghe chưa ai gọi họ là “madibe” (cha già của dân tộc) như người dân Nam Phi kính trọng gọi ông, nhưng họ lúc nào cũng nói chung một tiếng nói với ông. Tiếng nói đó vỏn vẹn chỉ có 2 chữ “Ke Nako”, có nghĩa “đây là thời điểm lịch sử” như ông từng mở đầu và kết thúc trong bài diễn văn nhậm chức Tổng Thống, và nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong những ngày vận động xin cho Nam Phi vinh dự tổ chức World Cup 2010.

Hai chữ “Ke Nako” giờ là câu nói hàng ngày của người dân Nam Phi và được kẻ trên những chiếc xe buýt chạy dọc ngang các đường phố, nhắc nhở mọi người thời điểm của lịch sử đã đến khi mọi chú ý của thế giới đang được dành riêng cho Nam Phi.

Ít nhất đến giờ phút này, ước mơ nhỏ bé của tôi chưa trở thành sự thật. Theo chương trình, ông sẽ ghé qua Trung Tâm Báo Chí Johannesburg để thăm một số nhà báo đã đi với ông từ bước đầu cho cuộc vận động World Cup 2010, và nói chuyện với những nhà báo lần đầu đặt chân đến Nam Phi.

Nhưng chuyện không may xảy ra tối hôm trước: cô bé tên Zenani, một trong những đưa chắt gái của ông đi xem chương trình văn nghệ đón mừng World Cup, không may vị đụng xe chết trên đường về nhà. Cô bé mới ăn mừng sinh nhật lần thứ 13 cách đó 2 ngày, và ngồi trên khán đài danh dự xem các nghệ sĩ lừng danh nhất của thế giới và của Phi Châu cất chung tiếng hát trong chương trình được dành riêng để vinh danh ông cố ngoại của cô. Mất mát này khiến ông cụ già đã 91 tuổi quyết định không dự trận banh mở màn, và bỏ cả chương trình gặp gỡ với báo chí.

Chưa gặp không có nghĩa là sẽ chẳng bao giờ gặp, tôi tự nhủ thầm như thế. Tôi mới đến đây chỉ một vài ngày và còn ở lại cả tháng trời nữa, đủ để vững tin sẽ có lúc được gặp ông. Chưa hẳn tôi đã là người may mắn được ông bảo ngồi xuống nói chuyện cho ông nghe, nhưng dù chỉ đứng cúi đầu trước mặt ông chỉ một giây đồng hồ thôi, cũng đủ để tôi thưa cùng ông những gì tôi muốn nói.

Tôi sẽ thưa với ông những gì trong đúng 1 giây đồng hồ thật ngắn ngủi nhưng rất quý báu đó? Một giây thôi, đã đủ để tôi nói vời ông hai chữ “Việt Nam”. Hai chữ này bao gồm cả “cố gắng, nhẫn nại và niềm tin” như ông đã nói. Tất cả chúng tôi đang cố gắng, tất cả chúng tôi đang nhẫn nại và tất cả chúng tôi đều có niềm tin. Niềm tin đó là “nếu Trời không đóng cửa xứ Nam Phi của ông, thì Trời cũng chẳng đóng cửa xứ Việt Nam của cháu đâu, ông Nelson Mandela ạ”.

Theo dòng thời sự:

Keine Kommentare: