Huỳnh Ngọc Nga
Bà ngoại người miền Trung, xứ Huế, mồ côi mẹ, ở cùng cha và dì ghẻ. Mẹ kế độc hiểm, đày ải hai chị em ngoại lắm điều gian khổ khiến cả hai chịu không nổi phải bỏ nhà ra đi. Đất miền nam, miệt Cần Đước - Long An vừa lành vừa tốt đón hai chị em ngoại như mẹ đón con. Chị của ngoại lập gia đình cùng chồng chăm lo cho ngoại, mở cho ngoại một gian hàng nhỏ bán vải làm kế sinh nhai.
Một chiều đi bổ hàng từ Chợ Lớn Mới về, ngoại đi ngang qua một ngôi nhà có chậu hoa hồng tươi thắm đang mùa rực nở hoa vàng. Ngoại vốn yêu hoa, lại thích hồng vàng vì từ nhỏ vẫn nghĩ màu vàng là màu hoàng phái của giòng họ gốc gác miền Trung của ngoại. Ngoại đứng ngoài cổng nhìn say đắm hoa hồng vàng mà không biết có chàng trai trẻ bên cửa sổ trong nhà nhìn trộm ngoại cũng đắm say. Ngày một, ngày hai họ quen nhau qua sắc thắm hoa hồng vàng, kẻ tặng hoa, người đón nhận, tình nở như hoa, tình đơm hôn lễ.
Ngoại làm vợ, làm dâu tưởng bình an phận gái, nhưng trời cao dường như muốn thử thách khách má hồng nên cho ngoại có một cô em chồng ngoa ngoắt, một ông chồng thích ngắm hoa vườn nhà khác và cha mẹ chồng yếu già cần chăm sóc, ngoại nhọc nhằn chẳng khác gì thuở còn ở cùng cha và dì ghẻ.
Đứa con trai đầu lòng ra đời đã yểu mệnh, ngoại chưa hết nước mắt khóc con thì đứa thứ hai cũng èo uột ra đi, có lẽ cuộc sống khắc khổ gia đình chồng khiến ngoại không đủ sức sanh con vuông tròn mạnh khỏe. Ông ngoại và ông bà cố muốn có con cháu nối giòng nên bắt đầu chăm sóc ngoại, và mẹ ra đời bình an trong thương yêu vui sướng của tất cả mọi người. Nhưng mẹ vẫn là gái, con gái là con của người, gia đình cần một bé trai đích tôn, đích tử. Ngoại vừa tiếp tục bán buôn hàng vải, chăm sóc mẹ, phụng dưỡng ông bà cố, phục dịch ông ngoại, chịu đựng em chồng. Vất vả vậy nhưng rồi các đứa con khác vẫn tiếp nối chào đời, đứa sống còn, ngừơi chết khi còn đỏ hỏn. Dì năm, cậu bảy và dì tám hiện diện cùng mẹ cho nhân số gia đình ông bà ngoại gia tăng và thêm sức nặng trên đôi vai gầy của ngoại. Lúc ngoại sinh dì tám cũng là lúc ông ngoại bỏ nhà theo vợ bé đi lập gánh cải lương. Oái oăm hơn khi ngoại biết người cướp chồng mình là cô bạn thân của ngoại. Ông bà cố chết khi ông ngoại vắng nhà, một mình ngoại gồng gánh lo toan mọi việc tang ma, trong ngoài, nợ nần tứ hướng. Ngoại bắt đầu ăn chay trường từ đó nhưng những đứa con của ngoại vẫn ăn uống theo đời thường. Sau nầy mẹ hỏi sao ngoại lại phải ăn chay. Ngoại bảo ăn chay để tâm hồn ngoại lắng xuống, để không oán hờn ông ngoại, không ghen ghét bà ngoại nhỏ và không cho ham muốn thường tình làm khổ xác thân. Chay tịnh để ngoại tự chiến thắng khổ cảnh cuộc đời, để ngoại thêm nghị lực nuôi đàn con dại, bỏ ngoài tai lời ong ve rù quến.
Bà cô tuy khó khăn tỵ hiềm với ngoại nhưng vẫn chăm sóc các cháu giúp chị dâu để ngoại bôn ba buôn bán trả nợ nần. Một thời gian sau bà cô đi lấy chồng, ngoại một thân một mình với bốn đứa con thơ, năm đó mẹ vừa tròn mười tám, dì năm cũng ở tuổi bẻ gảy sừng trâu. Mẹ và dì năm đều đẹp nết, đẹp người nên tình đến sớm cũng là chuyện tự nhiên. Mẹ gặp cha rồi kết thành duyên giai ngẫu năm trước thì năm sau dì năm cũng lập gia đình. Mẹ theo cha lên Saigon, dì năm theo dượng về Gia định. Ngoại ở nhà buôn bán nuôi cậu Bảy và dì Tám.
Nhưng lúc đó đoàn cải lương của ông ngoại rã gánh tan bèo, ông ngoại dẫn bà ngoại nhỏ và các đứa con của hai người trở về căn nhà ở Cần Đước, ngôi nhà mà ngoại đã bỏ bao công sức, tiền của tu bổ sau ngày ông ngoại ra đi. Ông ngoại không thể đuổi ngoại nhưng ra lịnh cho ngoại chấp nhận bà ngoại nhỏ và các con được ở chung cùng. Ngoại không nói một câu, lẳng lặng sắp xếp hành trang đem cậu Bảy và dì Tám lên Saigon tìm mẹ và dì năm. Ngoại đi không ngoái đầu nhìn lại, bỏ lìa sau lưng gốc hoa hồng vàng ngoại tưng tiu chăm sóc bấy lâu nay. Gốc hồng cũ ngày xưa với những cánh vàng rực rỡ đẩy đưa ngoại vào vòng nghiệp chướng vợ chồng, màu hoa vàng hoàng phái cũng là màu vàng phản bội của tình trường, tội thân ngoại trót yêu hoa hồng vàng nên đời ngoại gặp lắm gian nan. Ngoại thôi không ngắm hoa hồng vàng từ dạo đó.
Lên Saigon ngoại đem cậu Bảy gởi nhà ba mẹ, đem dì Tám cho dì dượng Năm chăm sóc. Ngoại xin được một chân nấu bếp trong bịnh viện Đồn Đất (Grall) và ở hẳn tại đó, lương tháng lãnh bao nhiêu ngoại đem chia đều cho mẹ và dì Năm để nuôi cậu Bảy và dì Tám ăn học. Nhưng cuộc đời không để ngoại yên, trong một buổi chiều đi học về, dì Tám bỗng dưng ngả lăn ra chết vì bị động tim, bịnh mà dì mắc từ thuở nhỏ. Ngoại như cành hồng oằn xuống sau cơn bão, những đứa con trước chết lúc chưa tới ngày đầy tháng hoặc chưa tới tuổi thôi nôi, còn dì Tám là con út, hiền hiếu đủ điều, ai cũng mến yêu, nay bỗng ra đi vĩnh viễn ở tuổi trăng tròn đẹp nhất, ngoại khóc thương con mà cũng khóc thương đời bọt bèo của ngoại, chay tịnh chưa đủ làm ngoại chấp nhận sự vô thường còn mất thế nhân, chưa đủ để ngoại quên cô con út hiền ngoan xinh đẹp, ngoại bắt đầu đi chùa vào mỗi kỳ trăng sáng, trước lạy Phật sau cầu vãng sanh cho dì Tám, chuyện chùa chiền hôm sớm bỗng trở thành thói quen của ngoại.
Cậu Bảy học xong Trung học, đậu Tú Tài đúng mùa quân ngũ, cậu vào Võ bị Thủ Đức, ra trường với lon chuẩn úy và lấy binh nghiệp làm bước tiến thân. Ngoại lại thỉnh thoảng bôn ba thăm cậu khắp bốn vùng chiến thuật cho đến ngày cậu về hẳn Saigon làm ở Tổng tham Mưu tại Tân sơn Nhất và cưới vợ. Cậu không muốn ngoại cực khổ hoài nên không cho ngoại đi làm nữa mà rước ngoại về ở chung với gia đình cậu. Đây là thời gian hạnh phúc nhất của đời ngoại. Ngoại có đông đủ cháu nội, cháu ngoại đầy đàn, được rể hiền, dâu thảo thương yêu, bao thuở long đong, một thời an hưởng là đây của ngoại, ngoại tiếp tục đi chùa, mỗi mùa Vu Lan là mỗi độ ngoại nhận hoa hồng của cháu, con mừng tặng, những đóa hồng thay sắc không mang màu vàng oan trái nghiệp duyên ngày xưa mà thay vào đó là màu đỏ thắm tươi tình con thương mẹ, tình cháu thương bà, cậu Bảy trồng trong khuôn sân nhỏ nhà cậu một gốc hồng đỏ dành riêng tặng ngoại, hoa sẽ nở quanh năm như câu hiếu nghĩa cậu dành riêng muôn vạn ngày cho ngoại, hoa ngát hương hoài đâu đợi chỉ ngày lễ hội từ ân.
Ông ngoại giờ mới thấy sự bạc bẽo của mình sau bao năm để ngoại sống đời gian khổ, ông ngoại tìm ngoại để nói lời xin lỗi, ngoại bảo giận cho lắm thì có níu kéo gì đuợc nữa đâu, ngoại ăn chay, đi chùa nên chỉ biết buông xả để cháu con không gút mắc cùng cha, ông của chúng, cho gia đình còn chữ tôn ty. Ngoại còn chịu cho bà ngoại nhỏ dẫn các dì, các cậu con của bà đến chào thăm, ngoại nói đúng ra tính ông ngoại khó khăn, nghiêm khắc, ngoại phải cám ơn bà ngoại nhỏ đã thay ngoại chịu cực với ông ngoại ở tuổi cuối đời nay ốm, mai đau.
Nhưng có lẽ nghiệp căn dày nặng nên sóng gió lại nổi lên khi tuổi ngoại ngoài bảy mươi, biến chuyển năm 75 đổi thay thời thế, chao đảo cuộc đời, miền Nam thất thủ và cậu Bảy như bao nhiêu quân, cán, chính phải lên đường đi học tập cải tạo, chức Đại tá quân báo cũ cho cậu chịu hơn 9 năm trường gian truân tận miền Bắc xa xôi. Ông ngoại mất đi vài năm sau, không thấy mặt cậu Bảy, chỉ có mẹ, dì Năm và ngoại cùng các đứa cháu về chịu tang cùng gia đình mới của ông ngoại. Trong thời gian nầy mợ ở nhà bán buôn tần tảo nuôi con, ngoại giúp dâu trông coi năm đứa cháu nội tuổi hãy còn thơ, dì Năm và mẹ cũng lao đao đời sống mới cho gia đình riêng nên chẳng giúp gì nhiều cho ngoại và mợ. Gia đình mẹ được giấy bảo lãnh của cô con gái lấy chồng phương xa nên rời VN sang Ý để ngoại ở lại cùng dì Năm và mợ.
Thương nhớ con cộng thêm những năm tháng truân chuyên ngày cũ, ngoại bắt đầu nay yếu mai đau, khoắc khoải chờ ngày cậu về mà bóng cậu vẫn bặt tăm, đường đi thăm nuôi cậu quá xa nên mợ không dẫn ngoại cùng đi được, mắt ngoại mờ dần vì khóc nhớ cậu, ngoại mất trí nhớ vào những năm cuối đời và vĩnh viễn giã từ cuộc sống khi hoa hồng đỏ vẫn nở rộ trong khuôn sân trước cổng nhà, ba năm sau ngày ngoại mất cậu mới được trả về cố quận.
Cậu về, mộ ngoại cỏ đã lên cao, nằm cạnh mộ ông ngoại và bà ngoại nhỏ. Chương trình HO giúp những cựu quân nhân như cậu cùng gia đình lên đường ra đi lập lại cuộc đời nơi đất lạ. Trước ngày ra đi cậu tự tay mua vật liệu xây mộ cho ngoại và ông ngoại, trước mộ ngoại cậu trồng một gốc hồng trắng, màu của người con mất mẹ, màu của nhớ thương phụ mẫu không còn.
Mười mấy năm sau, mẹ, dì Năm và cậu cùng về khi VN mở cửa đổi mới chính sách đường lối ngoại giao. Ra thăm mộ ngoại thấy sao tiêu điều hoang dã, gốc hồng trắng cũ không còn, bà con giữ đất cho hay trong tương lai vùng đất có mộ ông bà ngoại sẽ bị phóng làm đường. Ba chị em mẹ lấy cốt ông bà ngoại và bà ngoại nhỏ đem thiêu rồi gửi vào chùa nhờ sư thầy tụng niệm một tháng cầu kinh siêu độ, sau đó đem các tàn tro rải xuống sông cầu Nổi (Cần Đước, Long An).
Ngày rải tro, mẹ mua hoa hồng với ba sắc vàng, đỏ, trắng thả giữa giòng sông để nhớ cuộc đời của ngoại, cuộc đời dan díu giữa những sắc hoa hồng, giờ tro thân tan trong sóng nước phù du, các sắc hoa cũng chìm nổi dật vờ rồi mất dần theo sóng nước. Một kiếp người, ba sắc hoa, cuối cùng tất cả đã hoà vào hư ảo, có còn chăng chỉ còn tấm lòng hoài vọng của cháu con. Nhưng than ôi, những cháu con đó cũng không khác chi bao sinh linh huyễn hoặc còn, mất, đến, đi của cõi vô thường nầy.
HUỲNH NGỌC NGA
Torino, ITALIA – 21.07.2011
Keine Kommentare:
Kommentar veröffentlichen