Posts mit dem Label Tự truyện werden angezeigt. Alle Posts anzeigen
Posts mit dem Label Tự truyện werden angezeigt. Alle Posts anzeigen

Mittwoch, 19. April 2023

Cuộc sống mới trên đất Mỹ

Trần Lâm Phát

Virginia 2002

Tháng 6 năm 1979,  tôi theo gia đình vợ vượt biên bán chính thức theo diện người Hoa. Tôi không phải là người Hoa nên nhạc phụ mua lại giấy của người Hoa tên Trần Xú Há cho tôi để ra đi dễ dàng. Nhạc phụ và nhạc mẫu quyết định đi lúc này vì con trai chúng tôi, Vân-Hải, mới 3 tháng tuổi nên công an không hề để ý đến tôi.

Chiếc thuyền rời Mỹ tho được hai ngày thì chết máy. Chiếc ghe nhỏ trôi dạt 14 ngày ra đến Bình Tuy. Tàu Liên sô cứu vớt và kéo về Vũng tàu. Nhạc phụ tôi đưa mật khẩu cho công an Vũng tàu và họ liên lạc công an Mỹ tho. Ban điều hành Mỹ tho cho xe lên Vũng Tàu đón về và ra đi lần thứ hai.

        Đi được môt ngày thì bị hải quân bắt, giam vào 1 hòn đảo nhỏ một tuần. Tụi nó gọi từng người lên doạ nạt. Nhìn sắc mặt âu lo của cha mẹ vợ thì tôi cũng hiểu được lý do; do đó khi trò chuyện với người cùng thuyền, tôi luôn luôn nói tiếng Bắc kinh (Quan thoại). Tôi học tiếng Quan thoại 2 năm ở Trung tâm thính thị sinh ngữ, trường Đại Học Sư Phạm Sài gòn với giáo sư Khưu Sĩ Huệ trong lúc theo học ban Việt Hán Đại Học Sư Phạm Sài gòn.


Đại Học Sư Phạm Sài Gòn 1971

        Sau khi lấy hết tiền bạc, vòng vàng, địa bàn, xăng dầu, tụi nó kéo ghe chúng tôi ra ngoài khơi và chặt dây thừng.

Chủ ghe dường như đã dự đoán được hoàn cảnh này nên đã âm thầm đóng tàu 2 dáy và dấu nguyên liệu ở từng dưới. Sau khi bọn hải quân đi xa rồi, chủ ghe mới kêu thủy thủ đoàn đục thủng dáy trên, lấy lương thực và xăng dầu để tiếp tục hành trình. Nhìn trăng, nhìn trời mà định hướng. Đi dược một ngày thì bị hải tặc bắn súng hăm dọa. Tài công chạy tháo chết và lạc ra giữa biển khơi thuộc hải phận quốc tế. Lần này cũng gặp tàu Liên sô, họ cho thực phẩm, nước, và chỉ đường cho tới Indonesia.

 Sau hai ngày, tàu cập bến. Chính quyền địa phương không cho lên bờ, đòi tiền và hăm dọa kéo ra ngoài biển. Ông nhạc tôi hạ lịnh đục lũng chiếc thuyền cho nước ngập và đêm hôm đó mọi người đổ bộ lên đất liền. Cơ quan thông tin báo chí hãi ngoại đến chụp hình thuyền nhân và chánh quyền địa phương phải bắt đầu cứu cấp thực phẩm, nước uống. Mọi người nằm ngũ dưới gốc cây dừa trên bờ biển, bù cạp cắn nhức xương. Sau gần một tháng, nó cất cho mấy căn chòi nơi rừng rú xa xôi ở Jago. Chính quyền sở tại đòi một gia đình phải nộp 50 dollars thì mới được chuyển đi. Hầu hết ai cũng phải cho nó tiền để được thuyên chuyển đến nơi cư trú tạm thời.

Nơi trại Jago, có nhiều nhà hảo tâm đến an ủi và giúp đỡ khi thấy gia đình có trẻ sơ sinh.


Trại Jago, Indonesia, 1979

        Gia đình ông nhạc tôi được bảo trợ đi trước. Hai vợ chồng tôi với đứa con thơ còn ở lại và chờ người bảo trợ. Khoảng sáu tháng trôi qua, gia đình tôi được nhà thờ Lutheran ở thành phố Lynchburg, tiểu bang Virginia bảo trợ đến Mỹ ngày 19-1-1980.
     Tôi bị bịnh khi đến Mỹ. Nhà thờ cho người đến đưa đi khám răng, khám sức khỏe, đưa đi chợ và tiệm giặt quần áo. Một tuần lễ sau, tôi đi làm cu li cho một xưởng gỗ Old Dominion Wood Products. Lội bộ đi làm. Tan sở lúc 4 giờ, tôi lại đi bộ 5 miles (8km) đến trường E.C. Glass High School để học Anh ngữ. Lớp học bắt đầu lúc 6 giờ cho dến 9 giờ. Sau lớp học, ông Braumiller, người trong nhà thờ đến đón về. 


Mấy tháng trôi qua, nhà thờ dời gia đình tôi đến một cư xá gần siêu thị để họ khỏi phải cung cấp phương tiện di chuyển. Tôi đón xe buýt đi làm và đi học. Cuối tuần vợ chồng con cái lội bộ đi mua thực phẩm, giặt giũ quần áo. Đời sống rất là cơ cực. Tôi đi học Anh ngữ đến mười giờ tối mới về đến nhà. Mùa đông giá lạnh thấu xương, tuyết phủ đầy dầu cũng phải đi làm. Tiền lương không đủ để trả tiền thuê nhà, nhà thờ phụ giúp. Một năm trôi qua, tương lai có bề đen tối; ông nhạc tôi kêu gia đình tôi dọn lên Richmond để gần gủi gia đình và đi học trở lại. Nhà thờ vẫn tiếp tục cho tiền mướn nhà khi gia đình tôi dọn lên Richmond.

        Tôi bắt đầu lảnh trợ cấp xã hội (food stamps) và đi học trở lại. Tiếng Anh không rành, nên tôi ghi danh môn toán, lý và điện song song với môn luyện tập Anh ngữ (English as second language). Dinh dưỡng thiếu thốn, tôi khạc ra máu. Bác sĩ Watson biết được hoàn cảnh của gia đình tôi qua báo chí lúc tôi thắng được học bổng quốc gia nên bác sĩ Watson cung cấp thuốc men và chửa bịnh miễn phí.

Richmond News Leader paper, July 6, 1982

Tháng 6 năm 1983, tôi tốt nghiệp cán sự điện tử (Electrical/ Electronics Technology) với hạng Summa Cum Laude nhưng Anh ngữ còn kém nên không ai mướn. Trường đại học công đồng John Tyler Community College biết tôi có năng khiếu dạy học cho nên mướn tôi dạy lớp thí nghiệm (Lab Instructor). 

Cuối tuần và những ngày không dạy, tôi di làm cho tiệm TV Doctor: sửa radio, cassette, VCR và TV. Cuộc sống tạm đủ qua ngàỵ. Lúc con gái, Minh-Hải, bịnh sốt, bị kinh giật, không có phương tiện giao thông, phải gọi hàng xóm và họ gọi bà Jenny Hower, người bảo trợ cho gia đình nhà vợ chở đi bịnh viện. May mắn Minh-Hải bình thường sau cơn sốt.

Năm 1984 công ty điện lực Virginia Power đến John Tyler Community Collge để tuyển dụng cán sự giỏi về điện tử. Tôi nộp đơn, được phỏng vấn và được mướn làm cán sự (Instrument technician) ngày 20-3-1984. Làm việc rất vất vả, sở gọi mình bất cứ lúc nào mình cũng phải vô làm. Mùa đông, nước đông lại, làm nghẹt đường nước và đường hơi khí (instrument air), phải dùng ngọn lửa (torch) đèn mà hơ nóng. Làm ở ngoài trời, người run cầm cập, khóc lấy một mình. Mùa hè khi làm xung quanh nồi nấu nước (boiler), nhiệt độ rất cao, mồ hôi tuôn chảy, người ướt như chuột lột. Ban ngày đi làm, ban đêm đi học (part time student) để lấy bằng kỹ sư điện tử. Tháng 7 năm 1987,  tôi tốt nghiệp hạng Distinction, ngang hàng hạng SumaCum Laude cho sinh viên học tòan phần (full time student). Có khi đi học vừa về đến nhà, sở gọi đi làm và cả đêm không ngũ. Sau gần ba năm làm cho nhà máy phát điện chạy bằng than, tháng giêng năm 1987, tôi được tuyển qua trung tâm huấn luyện điện năng (Operating Training Center). Năm 1988 công ty thuyên chuyển tôi qua bên trung tâm huấn luyện và đào tạo chuyên viên cho nhà máy điện nguyên tử (nuclear power training center). Tôi thiết lập hệ thống computer, network, camera, phone và bảo trì các dụng cụ trang bị máy móc (Instrumentation ). 

Tôi nghiên cứu, sáng chế và lắp ráp những mạch điện tử cho simulator khi không có ai chế ra những dụng cụ đó hoặc giá mua quá đắc.





Simulator giống hệt 100% nhà máy thực nhưng những dụng cụ, instrumentation, điều khiển bằng computer. Luật liên bang ở Mỹ bắt buộc người điều khiển nhà máy phát điện nguyên tử (Nuclear power operator) phải được huấn luyện trở lại sau sáu tuần làm việc ở nhà máy (every 6 weeks). 


        Bây giờ thì tôi làm trong nhà, có máy lạnh, máy sưởi. Công việc thì rất thoải mái nhưng có nhiều trách nhiệm. Mọi người trong sở rất ngưỡng mộ và thân thiện với tôi. Chỉ có đi làm xa và rất sớm: Lái xe đi từ lúc 4 giờ 30 sáng và 5 giờ chiều mới về tới nhà.

Buồn cho số phận của kẻ tha phương cầu thực. Mỹ không chấp nhận bằng cấp của Việt Nam nếu không có thuyên chuyển học bạ (transcript). Năm 1985 tôi đổi tên họ là Trần-Lâm Phát khi gia nhập quốc tịch Mỹ (Lâm là họ nhà vợ).

Virginia, July 15, 2010

Sonntag, 7. Oktober 2018

Sống khỏe - Sống lâu


Xin bấm chuột trái vào mũi tên xéo bên góc phải hoặc dấu + bên dưới để mở lớn.

 

Dienstag, 22. Mai 2018

NHỚ NHÀ

BS Nguyễn Sơ Đông

Pourquoi le prononcer ce nom de la patrie?
Dans son brillant exil mon coeur en a frémi
II résonne de loin dans mon âme attendrie,
Comme les pas connus ou la voix d’un ami.

Tôi muốn đổi chữ “brillant” thành “douloureux” vì trốn chui, trốn nhủi, vượt biên còn thua con chó đói, thì có gì là “brillant”. Sợ mang tội với Lamartine, lại thừa một “pied”.
Tôi là thằng “lăn chai”, lúc nhỏ suốt ngày ở ngoài đồng, lội hết mương nầy đến rạch kia. Tôi không phải đi chăn trâu, nhưng tôi cỡi trâu “nghề lắm”. Leo lên lưng trâu đâu có dễ. Tôi mới sáu, bảy tuổi, đứng vừa qua khỏi ngang nửa bụng trâu, mà trâu đâu có “mọp” xuống như voi cho mình leo lên. Vậy mà thằng tui phóng lên ngang hông trâu cũng được, kẹp “đầu gối” (trâu) trước cũng xong, phăng lên bằng đầu gối sau cũng “phẻ” mà kéo đuôi cũng yên. Trâu tốt hơn “người ta”: không khi nào “đá giò lái”, không “đá ngược” bạn bè.<!>
Nắng, mưa tôi có coi ra gì đâu? Mưa xối xả, mưa nặng hột,… tắm mưa càng vui. Tắm đến chừng da tái mét, run lập cập mới thôi. Một lát – có khi cả giờ nữa, nắng lên, khô queo,… thì lội nữa.

Freitag, 27. Oktober 2017

TÓM TẮT ĐỜI TÔI

Trần Long

Ngày 8-6-1928 Sinh ra tại Phátdiệm, Ninhbình, Bắc Việtnam.

1935-46 Tiểuhọc và trunghọc tại Ninhbình và Hànội tại các trường cônggiáo dưới sự hướngdẫn của các thàydòng Lasan và các cha Đaminh.

1946-49 Họcvấn bị giánđoạn khi chiếntranh Việt-Pháp bùngnổ vào cuối năm 1946, trởvề quê Phátdiệm sống với giađình.

1949-56 Giữa năm 1949 thoát khỏi vùng Việtminh bằng đường biển từ Phátdiệm qua Hảiphòng vào Hànội; cuối năm đó bay từ Hànội vào Sàigòn rồi lên tàuthủy tới Marseille vào đầu năm 1950. Sống tại Paris tới tháng 9 thì đáp tàuthủy từ Le Havre tới New York City rồi bay tới Portland, Oregon. Sau bốn năm tại University of Portland tôi tốtnghiệp B.Sc. Quảntrị Kỹnghệ năm 1954 rồi được thêm họcbổng chuyển tới Syracuse University, New York, học tại Maxwell Graduate School và tốtnghiệp M. A. Kinhtế Tàichánh cuối năm 1955, rồi sauđó về Sàigòn.

Freitag, 22. September 2017

TÌNH THỤNHÂN


  - Peter TRẦN LONG -

Tình bằnghữu, nghĩa Thụnhân:
Hằng năm ít nhất một lần gặp nhau.

Hôm Đạihội Thụnhân Kỳ 3 tại Nam California July 1987, Cha Việntrưởng Lêvăn Lý có nói một câu mà tôi nhớ hoài: “Cha mẹ đặt tên cho tôi là Lê văn Lý, nhưng đến giờ này tôi muốn đổi tên là Lê hữu Tình.”  Câu nói đó, tôi nhớ hoài, vì chính tôi, trong mối tươngquan giữa người với người, vẫn nặng về tìnhcảm hơn là lýtrí, vẫn dựa vào cảmgiác hơn là trítuệ.

Giađình mười người chúngtôi maymắn thoátnạn cộngsản đêm 29 thángtư 1975.  Sau sáu tuầnlễ lênhđênh trên biểncả, táp vào Subic Bay, ở lều trên đảo Guam và trại lính Fort Chaffee, chúngtôi địnhcư tại Hillsboro, một thànhphố nhỏ phía tây Portland, Oregon.  Mãi sáu năm sau, khi đờisống tươngđối đã ổnđịnh và đã trởthành côngdân Mỹ, chúngtôi mới láixe từ Hillsboro xuống tận Orange County để thamdự Đạihội Thụnhân Kỳ 1 July 1981.  Từ đó đến nay, chúngtôi đã thamdự rất nhiều cuộc hộihọp lớnnhỏ của các thânhữu Viện Đạihọc Dalat dọc theo hai bờ đạidương và miền trung Bắc-Mỹ từ Vancouver BC xuống San Diego, từ Montreal qua Chicago xuống Dallas và Houston, từ Miami qua Atlanta lên Washington DC, rồi băng qua Pháp và Đức bên Âuchâu và các tỉnhbang của lụcđịa Úcchâu.  Đi đến đâu, chúngtôi cũng được tiếpđón niềmnở, nồnghậu, chuđáo về nơi ăn chốn nghỉ, trong tình tươngthân tươngkính của đạigiađình Thụnhân.

Đặcsan “Đường Thông Năng Tĩnh 2008” có đăng bài của chị Đoàn-Chính Mộng-Hương viết về chuyến thămviếng của chúngtôi, thày cũ trò xưa gặplại nhau tại Montreal và Toronto, mùathu 2007.  Chị Hương viết: “Sau bao ngày mong đợi, rốt cuộc ngày ra đón Thày Cô tại phi trường cũng đã tới!”… “Tiễn đưa Thày Cô ra phi trường, mà trong lòng thấy bùi ngùi, luyến tiếc, chỉ mong sao ngày ĐH2008 mau tới để gặp lại Thày Cô.”

Đặcsan “Ngày Về Hòa Lạc 2010” có đăng bài của chúngtôi về chuyến thămviếng hơn ba tuầnlễ các giađình cựusinhviên và giáosư sinhsống tại nhiều nơi bên nước Đức.  “Về đến nhà bìnhyên vôsự, tôi điệnthoại báotin cho anh Kim và nhờ anh chuyển lời cámơn của chúngtôi đến tấtcả các anhchị.  Các anhchị đã gópphần rất lớn vào chuyếnđi maulẹ, đúnggiờ, thoảimái, hihữu của chúngtôi .  Chúngtôi sẽ nhớ hoài, sẽ nhớ mãi.”

Thày Cô đến Úc gặp trò già;
Chẳng đắnđo, nghilễ bỏqua;
Chỉcốt tìnhthân thêm thắmthiết…
Thiếttha, thânthiết, thật thiếttha.

Saukhi được biết chắcchắn Đạihội Thụnhân 2010 sẽ tổchức tại Melbourne vào mùahè miệt-dưới từ 27 November đến 2 December, chúngtôi mua vé máybay đi ngày 15 November từ Portland đến Melbourne, về ngày 11 December từ Sydney trở lại Portland.  Nhưvậy chúngtôi đến trước mười ngày và ở lại thêm mười ngày để rộng thìgiờ thămviếng họctrò cũ.  Theo cách sắpđặt của ban tổchức và nhờ tài tháovát của nhiều anhchị khác, chúngtôi đã maymắn gặp hầuhết các giađình Thụnhân sinhsống tại Melbourne, Adelaide, Canberra, Sydney, Brisbane và Darwin. Thật là những cuộc hạnhngộ thíchthú, không biết có còn xảyra lần thứhai tại miền đất xaxăm hoangdã này nữa không.


Bước xuống phitrường Melbourne, chúngtôi được gần 20 anhchị tiếpđón, vuivẻ chuyệntrò nổ như bắp rang, người năngnổ nhất là anh Nguyễnngọc Quế.  Saukhi ăntrưa, anh Tháihồng Tân đưa chúngtôi về nhà, một ngôinhà thật ấmcúng với phòngngủ dành cho chúngtôi, không thua kháchsạn năm sao.  Chị Nguyễnngọc Yến và anh Tân lo cho chúngtôi rất chuđáo, thântình như người trong nhà.

Anh Tân vượt biển trước với người con trai, rồi bảolãnh cho chị và giađình người em trai.  Hiệnnay hai giađình cưngụ tại hai ngôinhà khangtrang sát bên nhau.   Chị Yến kể rằng cả hai gốc Tràvinh, cùng một con đường, người ở đầu người ở cuối, bị mẹ chồng chê “chỉ biết đi học, không biết làm ăn.”  Một điều thíchthú là tôi lại được biết thêm rằng chị Yến là cháu ruột của Luậtsư Nguyễnkhắc Vệ, gọi là Bác Tư.  Lần duynhất tôi được hânhạnh gặp ông Vệ là khi ngồi cạnh ông trên chuyến máybay Hanoi-Saigon vào cuối năm 1949.  Thờiđó ông là tổngtrưởng bộ tưpháp trong nộicác Nguyễnvăn Xuân. Khuôn mặt đônhậu, nóinăng bìnhdị, ông kể cho tôi đờisống sinhviên bên Pháp khi biết tôi sẽ từ Saigon đi tầu sang Marseille để duhọc.  Ông là người miền Nam đầutiên đã đểlại trong tôi một ấntượng tốtđẹp, sâuđậm, không thể nào quên được. Không ngờ 61 năm sau, tôi lại được gặp người cháu ruột của ông, quảthật thờigian quá vắn và thếgiới lại quá nhỏ.

Hai người khác mà chúngtôi traođổi chuyệntrò khá nhiều là anh Nguyễnphi Tiến và chị AiCơ-HoàngThịnh.  Anh Tiến đã liềumạng vượt biển cùng với mấy người em thơ.  Vừa vấtvả đi làm, vừa học thêm ngành chuyênmôn, vừa lo chămnuôi các em, anh đã phải chậtvật nhiều năm.  Đợi mãi tớikhi đờisống tươngđối ổnđịnh, anh mới chịu lập giađình.  Anh có dángđiệu cầncù siêngnăng của một người đã gặp nhiều nghịchcảnh mà vẫn giữ được tưcách hiềnlương của một kẻsĩ.  Chị AiCơ vượtbiên và được tịnạn tại Úc từ 1981.  Chị đã khởixướng và thamgia nhiều chươngtrình giáodục và xãhội của cộngđồng Việt tịnạn tại Úc.  Gặp chúngtôi, chị niềmnở hô lên: “Ai gặp Thày Cô cũng phải thán phục. Thày Cô khỏe mạnh trẻ trung hơn chúng em rất nhiều!  Thày Cô có thể cho chúng em biết bí quyết không ạ?” – “Bíquyết gì đâu, Chịị  Age is a matter of the mind; if you don’t mind, it doesn’t matter.  Tôi tạm dịch: Tuổitác là chuyện thâmtâm, nếu chẳng bận tâm thì đâu có chuyện. Xin chị góp ý để câu dịch được hoànchỉnh.” Tuy bậnbã tốingày chămlo cho thânphụ đauyếu vì tuổigià trên 90, chị cũng đã vào ThôngReo, Da-list, TN-Vic và TNIC để xin ýkiến.  Mấy ngày sau, gặp lại tôi, chị trao cho ba trang giấy in nhiều đềnghị khácnhau.  Dựa trên những đềnghị này, tôi sửa lại nhưsau: “Trẻ già là tự trong đầu, tưởng mình còn trẻ thì đâu đã già.”  Xin cámơn chị Tiến-AiCơ.

Chủnhật 21 November, chúngtôi bay tới Adelaide lúc 10 giờ sáng và được một số anhchị niềmnở tiếpđón, chuyệntrò rất vuivẻ.  Saukhi cùng nhau điểmtâm gần phitrường, chị Nguyễnthuận Linh chở chúngtôi về nhà, một ngôinhà khangtrang, nhiều cửasổ, đầy ánhsáng. Phòngngủ dành cho chúngtôi có đầyđủ tiệnnghi, không thua kháchsạn nămsao.  Thuận-Linh nóinăng hoạtbát, cửchỉ lanhlẹ, năngđộng chứ không năngtĩnh, chămsóc cho chúngtôi thật chuđáo.  TLinh đưa ra chươngtrình thămgviếng rất nhiều nơi, lại còn đềnghị là saukhi bếmạc Đạihội sẽ thuê xe và lái chúngtôi và một số bạn đi từ Sydney dọc theo bờbiển miềnđông qua Gold Coast lên Brisbane, khoảngcách đườngbộ gần một ngàn câysố, lòngvòng ba ngày hai đêm để ngắmnhìn cảnhvật trướckhi tới Oxley Motor Inn của anhchị Võquang Triệu.

Tiếptay với TLinh là anh Nguyễnđức Thuận, người trướcđây học cùng khóa và hiệnnay cưngụ cùng thànhphố, nhưng chưa baogiờ sống chung một nhà như có người lầmlẫn. Khác với TLinh, anh Thuận ănnói nhỏnhẹ, cửchỉ ôntồn, năngtĩnh chứ không năngđộng, đã theo chươngtrình của TLinh để chở chúngtôi thămviếng nhiều nơi.  Ngồi ở băng sau với cô Ánh-Nguyệt là Minh-Châu, cô bạn gốc Huế của anh, người cônggiáo lúc nhỏ thường luitới nhàthờ Phủcam.  Saukhi thăm trại trồng nho và nếm rượu vang, anh đưa chúngtôi đến mấy nôngtrại người Việt, trồngtỉa rất quimô và khoahọc, với hàng ngàn cây càchua ngay hàng thẳng lối, mọc trong nước và leo cao trên dây, những chùm trái lớn lủnglẳng từ ngọn xuống gốc.  Quảthật nhờ có TLinh và anh Thuận sắpđặt và chuyênchở mà chúngtôi được gặp hầuhết các anhchị Thụnhân sinhsống tại Adelaide và vùng phụcận, cũngnhư được viếng phongcảnh và sinhvật đặcthù của Úcchâu.

Thứsáu 26 November chúngtôi bay về Melbourne và được chị Phong-Lan ra đón tại phitrường rồi đưa đi ăntrưa; cả buổi trưa cho đến chiều chị Lan cùng với chồng là anh Michael Edwards đã chămlo cho chúngtôi hếtsức chuđáo.  Ban tổchức Đạihội, đặcbiệt là anh trưởngban Phạmvăn Lưu, đã cốgắng tốiđa và đã thànhcông tốtđẹp ngoài sự dựđoán của chúngtôi. Từ thủtục nhận phòng tại kháchsạn Vibe-Carlton, Melbourne, Victoria, ngày 27 November, cho đếnkhi bếmạc sau bữatiệc chiatay tại Foyer of Mounties, vùng phụcận Sydney, New South Wales, vào lúc 22 giờ đêm 2 December, mọi việc đã xảyra gầnđúng tổngquan chươngtrình đạihội như ghi trong Đặcsan Đạihội, trang 337-344.  Chúngtôi thíchthú thamdự các sinhhoạt ghi trong chươngtrình, đặcbiệt là các cuộc dungoạn bằng đườngbộ, vì được nhiều dịp vuicười tròchuyện với từng người, nhấtlà với các anh chị tới từ Việtnam. Xin cámơn tấtcả các anh chị trong ban tổchức.

Theo chươngtrình của anh Trầnbá Hồng-Minh, sau đạihội chúngtôi lưulại Sydney cho tới sáng Chủnhật 5 December rồi lấy máybay đi Brisbane.  Bước xuống phitrường thì gặplại anh Phạmthanh Thiên và được anh chở về nhà ănsáng và nghỉngơi .  Sauđó anh và cháutrai chở chúngtôi xuống khuphố Inala của người Áđông và mấy nơi khác ở trungtâm thànhphố, cho đến chiều thì đưa chúngtôi tới Oxley Motor Inn của anh Võquang Triệu.  Ba ngày hai đêm ở Brisbane vừa thoảimái vừa vuinhộn vì nhóm bạn của Thuận-Linh đi đườngbộ từ Sydney dọctheo bờbiển qua Gold Coast cũng tới Oxley Motor Inn vào đêm 5 December.  Nhóm này đi bằng hai xe gồm trên mười người vì có cả Giáosư Lâmthành Liêm và các bạn từ bên Pháp.  Sáng dậy, sau bữa điểmtâm, chúngtôi lại được hai tàixế TLinh và Nguyễnnhư Hổ cho tháptùng trởlại Gold Coast xuống tận Coolangatta rồi ngược lên Surfers Paradise băngqua tới Tambourine Mountain.  Sau khi lặnlội và leotrèo thăm Tambourine Rainforest Skywalk thì trời đổ mưa tầmtã và cũng đã gần bốn giờ; thếmà TLinh và anh Hổ còn phải láixe qua núirừng để về Motor Inn rất muộn, khiến cho các anhchị vùng Brisbane vừa đợicơm vừa lolắng.  Mấy ngày ở Brisbane chúngtôi đều ănngon ngủkỹ vì được chị Hài và anh Triệu chămsóc rất chuđáo.

Thứba 7 December là ngày nghỉ xảhơi, nhấtlà cho nhóm trên mười người đã đi đườngbộ từ Sydney trong những ngày qua.  Đây là dịpmay hiếmcó để gần haichục bạn từ khắpnơi ngồilại với nhau, hànhuyên tâmsự và traođổi những kinhnghiệm vuibuồn mà mỗi người đã thâulượm được trong bướcđường lưulạc. Chiều hômđó, saukhi chào tạmbiệt với quýbạn, hai người chúngtôi được TLinh và anh Hổ chở ra phitrường đáp máybay đi Darwin, thủphủ của tỉnhbang Bắc Úc, cách Brisbane khoảng bangàn câysố và hơn bốn tiếng đồnghồ bằng máybay phảnlực.

Quá nửađêm, vừa ra khỏi phitrường, chúngtôi gặplại anh Lêtấn Thiện và được anh chở về kháchsạn Vibe-Darwin/Waterfront.  Saukhi xong thủtục và đưa lên phòng, anh hẹn sẽ trởlại khoảng chín giờ để ănsáng rồi đi thăm phốchợ Áđông, viện bảotàng thổdân, và mấy côngviên rộnglớn nằm sát bờbiển.  Chiều xuống anhchị Thiện đưađến một caolâu chuyênmôn hảisản, nhàhàng này cũng nằm sát bờbiển, thứcăn thịnhsoạn, thựckhách đôngđảo.  Ngồi tại đây nhìn ra biển hướng về phía Tây-Bắc, chỉ còn khoảng 3700 câysố thì tới Saigon; đây là lần đầutiên tôi ngồi gần Saigon và Dalat nhất, kể từ ngày bỏ nước ra đi.  Sáng hôm sau anh Thiện chở chúngtôi đi thăm Crocosaurus Cove, ngay trungtâm thànhphố Darwin, với cásấu đủ cỡ từ con mới nở đến những con khổnglồ, đủ thứ rắnđộc và các loại bòsát, và trămngàn concá sặcsỡ đủ màu lượn quanhquẩn trong đám sanhô.  Vỏnvẹn chỉ có 36 tiếng đồnghồ thămviếng Darwin mà cũng đầyắp những kỷniệm thânthương.  Âu cũng là nhờ có anhchị Thiện đã lo cho chúngtôi thật chuđáo.

Máybay phảnlực Qantas cấtcánh lúc 13:15 từ phitrường Darwin, bay qua chừng 3200 câysố, rồi đápxuống phitrường Sydney lúc 19:25.  Trướcđây, sáng Chủnhật đã được anhchị Lêvăn Thái đưa ra phitrường, tối Thứnăm 9 December lại được anh Thái chị Lan ra đón rồi chở về kháchsạn.  Chưa hết đâu, chiều Thứbảy 11 December anhchị lại còn chở chúngtôi ra phitrường Sydney một lần nữa để trởvề Portland, Oregon. Thật là đếnnơi đếnchốn, quá-ư tươmtất.

Bốn ngày sống tại Sydney, chúngtôi rất cảmkích trước sự chămsóc tậntình của nhiều người, đặcbiệt là anh Trầnbá Hồng-Minh, chị Lạc Kim-Anh, và anhchị Lêvăn Thái.  Nhờvậy mà chúngtôi đã thămviếng được nhiều nơi, từ khuphố Áđông Parramatta tới ngôichùa vĩđại dưới Wollongong, những vườnhoa rộnglớn, những khốiđá khổnglồ chungquanh và gần dưới chân cầu Harbour Bridge, đứng dưới nhìn lên thì thấy đoàn người đang leo trên đỉnh nóc cầu, rồi lại đi tới Opera House (Nhà Hát Lớn Vòm Vỏ Sò) thật hùngvĩ, và còn được dùng bữatrưa đủ thứ sơnhào hảivị trong hai tiếng rưỡi đồnghồ trên chiếc duthuyền chạy ngược xuôi Vịnh Hảicảng để chiêmngưỡng vẻđẹp của Opera House, Harbour Bridge và Fort Denison.  Thật tuyệtvời.

Chiều Thứbảy 11 December, trên đường về, ngồi trên máybay mà lòngdạ bồihồi luyếntiếc, không biết baogiờ mới có dịp gặplại.

Nhớlại trong bữatrưa thịnhsoạn tại Oxley Motor Inn với gần haichục bạnhữu Thụnhân, tôi có nói mấy lời nhưsau: “Sau baonhiêu năm xacách, chúngta từ tứphương gặplại nơiđây, thật là hạnhngộ. Ngồi tại bàn này, có anh Thiên lại có anh Triệu; khiến cho tôi liêntưởng đến Ơn Thiên-Triệu mà Cha Lập đã nhận để trởthành Cha Việntrưởng, còn tôi maymắn cũng được ơn trời gọi để trởthành Thày Khoatrưởng.  Nhờvậy mà ngày hômnay chúngta hộihọp nơiđây, chanchứa trong tình Thụnhân của những người đã từng sống dưới mái trường Viện Đạihọc Dalat.”
Peter TRẦN LONG

Montag, 18. September 2017

ENCOUNTER OF A KIND

(Note: This autobiography is written by Danielle Tranlong)
In May 1958, at age twenty-five, I received my B. A. in Literature from Reed College, Portland, Oregon. I had mixed feelings in returning to Saigon and to my teaching position at the well-known Gialong High School for girls. A few years before, I had given my word to myself and others that I would return to serve my country, if I was given the chance to complete my college education in the United States.
In keeping my promise I bitterly felt my loss, nevertheless. My loss of opportunity ever to know and live a life I had yearned for since my childhood: a life whereby democracy is a goal to attain, fair play a rule, and gender preference a notion to be discarded. Though my position as a teacher of English was well respected, I knew that, beyond a close relationship with my students, my political voice was nil and my social standing inferior to any male colleague. I was a lively and free spirit. I had an easy laugh. That must be partly due to my French education, which could cause some irritation in the predominantly male crowd I worked with. Most of the time I carried a brave mien of “I don’t care what you think of me, as long as I’m not what you think I am.”
Those were my thoughts. I wrote them down and passed them, along with my apprehension, frustration, and despair, to my friends in the States.
One afternoon in late July 1958, I saw a young man at my doorstep. He came to pay a “welcome home” visit, he said. He introduced himself as Pho ba Long, who had returned from the States in early 1957. Our mutual friend, Jerry Ooka, had written him a few days earlier and mentioned my name.
His was the most heartening visit I ever had. He told me that he and some of his friends, all alumni of various American universities, had recently set up Lamson Institute, an evening school of language and business in Saigon. “You’re most welcome to join our teaching staff,” he added. “We are all eager beavers. This is a means for us to stay in touch with each other and to earn some extra pocket money.”
Pho ba Long’s enthusiasm was contagious and uplifting. Before leaving, he added, “Well, I’ll mention your name to Peter Tranlong, my friend and colleague at Stanvac Oil Company. He is the school’s co-founder and in charge of staffing. Let me know when you can see him and I’ll bring you to his office for introduction.”
So, it was all set. I had never taught at a private school. I had never gone begging for jobs, and already thought of money-grabbing school principals who expected their teachers to be magicians in retaining and entertaining students with “good jokes,” rather than inculcating in them a serious desire for learning. As you see, I was a “serious no-nonsense” young teacher, perhaps naive, maybe unrealistic.
On an early afternoon in August, I came to see Pho ba Long, whose office was on the ground floor of the Stanvac Building. He phoned Peter and told him of my visit.
I walked to Peter’s office on the second floor and knocked at the door. “Come in,” a voice resounded. A tiny man in a white business suit, sitting behind an oversize mahogany desk, looked up, an inquisitive look in his eyes, behind thick and large glasses. I thought I was expected!
“Hello,” I said in Vietnamese. “Pho ba Long advised me to see you for a teaching post at your school. Am I in the right place, talking to the right person?”

A glint of recognition, as if he suddenly remembered. He pointed me to a seat in front of the desk. Then suddenly, businesslike, very formally, he blurted out, “OK, shall we conduct this conversation in English?”
I felt anger rising in me. He knew that I had just graduated from one of the top colleges in the States, that I had taught English for over two years at one of the top high schools in Vietnam. How dared he question my abilities? Not friendly, this guy; not like Pho ba Long at all. I told myself, “I’ll show him. I’ll show what he’ll miss for not employing me.” It had never been my habit to try “charming” anyone. I despised the practice of playing coy, being a charmer, since I have always believed in hard work and accomplishment to get what I wanted. But with this person, no. Again, I told myself, “He’ll be more than convinced of my abilities; and he’ll be ‘charmed’ out of his wits.” How would I manage that? I didn’t have the vaguest idea. But I was going to do it.
Rearranging the front panel of my pale pink Vietnamese tunic dress, for a graceful fold, I looked straight into his eyes, and began to talk in English. He looked intent, barely smiling, hanging onto his chair.
“The reason I came to see you is, as Pho ba Long mentioned, that your group of teachers is a purposeful set of young men and women eager to make a difference in our world. I like teaching English, particularly now because of the need to bridge the gap between the new culture and our old culture. I also think I’d like to work alongside my peers for this teaching task. Now if you can explain to me what you expect of me, maybe we can work out a curriculum and strategy.” Not a word about remuneration, as if that was the least of my preoccupation.
I left some twenty minutes later, with an invitation to teach some few hours “on probation.” Was it a yes or a no? Well, who cared, I did my best. Did I really want the job? I wanted it, but only as a victory over that icy and imperturbable man. Brr! I wanted to thaw him out. What I would do next, I didn’t know.
My first lesson was conducted the following Monday at six p.m. I came prepared. I decided I would conduct a brief preamble on grammar, followed by comments on a short reading text. I found it important that my students stay away from those short broken English sentences, quickly learned by children in war-torn countries. I wanted my students to be able to write simple, but well-structured sentences.
The bell rang. Some thirty students of different ages from forty down to early teen stood up and looked at me with some disbelief. I was used to that look, since I started my teaching career at age nineteen and appeared barely sixteen. I stepped up on the platform, walked briskly to the podium, and motioned them to sit down. I introduced myself and also my lesson plan.
At that instant, somebody walked in, went straight to a chair in the front row, and gave me a nod as a silent invitation to go on. The students quieted down, recognizing the seriousness of the “inspection.” It was none other than Peter Tranlong himself, conducting his appraisal of my teaching. I was taken by surprise, to say the least; normally, an inspection is done unobtrusively by a supervisor or principal sitting in the last row, careful not to disturb the class in action and not to draw attention to himself or herself. Well, if he decided to take this course of action, I decided to ignore his presence and go on with my task.
“English sentence structure is very important,” I began. “Respect the sequence of subject, verb, and object. Mommy goes shopping. Not, shopping goes mommy.”
The class chuckled. A glance at the man in the front row told me he was chuckling too, from ear to ear. The ice had melted. We would soon have a normal relationship between two reasonable adults, maybe even two friends. I knew I had won him over, at least for a teaching position.
I was offered the job. That was no surprise. What did surprise me was he offered to give me a ride home. A “well-bred” girl never accepted such an offer! But I wanted to know him better. This, my dear grandchildren, was how your granddad succeeded in convincing me he was the right person for me. He did it without any long speech, without as much as touching me. We first met in August 1958, were engaged in December, and had our nuptial mass on February 1, 1959.
Once we overcame the serious work of proving to each other we were not of loose morals and not leading a freewheeling life just because we had been exposed to Western ideas, I began to fathom his deep sense of humor, his witticism always directed at himself, and his truthful character. Instead of playing a “charmer,” I was being “charmed” by his honesty and compassion. Even so, I thought to myself often, “I’ll have to change some of his ways, teach him to be more sensitive to my view of the world.”
Ánh-Nguyệt Danielle Tranlong August 1998

HẠNH NGỘ
(Ghi chú: Đây là tự truyện do Cô Danielle Trần Long viết bằng tiếng Anh.
Bản tiếng Việt do Ai Cơ Hoàng Thịnh dịch)
Tháng Năm 1958, tôi tuổi hăm lăm, tốt nghiệp Cử nhân Văn chương tại Reed College, Portland, Oregon. Tôi mang tâm trạng buồn vui lẫn lộn khi trở về với Saigon và với nhiệm sở cũ tại trường Nữ Trung học Gia Long nổi tiếng. Vài năm trước đó tôi đã hứa với chính mình và với mọi người rằng sẽ trở về phục vụ quê hương nếu có được cơ hội qua Mỹ hoàn tất bậc đại học.
Tuy nhiên, khi thực hiện lời hứa đó, tôi chua chát nhận ra nỗi mất mát của mình. Mất cơ hội biết và sống một cuộc sống mình khát khao từ thuở nhỏ: một cuộc sống mà quyền dân chủ là mục tiêu, sự công bằng là quy luật, và thói kỳ thị giới tính bị khai trừ. Cho dù địa vị cô giáo Anh văn của tôi được tôn trọng, tôi biết rằng ngoài mối liên hệ chặt chẽ với học sinh, thì tiếng nói chính trị của tôi chỉ là con số không, và địa vị xã hội của tôi thua kém bất kỳ nam đồng nghiệp nào. Tính tôi hoạt và thoáng. Tôi dễ cất tiếng cười vang. Một phần là vì tôi đã được giáo dục theo chương trình Pháp, điều này có thể gây ra một vài khó chịu cho các đám đông cùng làm việc với tôi, mà trong đó phái nam chiếm đa số. Hầu như lúc nào tôi cũng phải mang bộ mặt dũng cảm ngụ ý: “Tôi bất chấp quý vị nghĩ gì về tôi, miễn sao tôi chẳng như quý vị nghĩ là được rồi.”
Đó là những suy nghĩ của tôi. Tôi viết xuống và gửi đi, kèm theo nỗi lo âu, chán chường, tuyệt vọng, cho các bạn tôi ở Mỹ.
Một chiều cuối tháng 7-1958, một thanh niên xuất hiện ở ngưỡng cửa nhà tôi. Anh nói anh đến để chào mừng tôi từ Mỹ về. Anh tự giới thiệu là Phó Bá Long, cũng từ Mỹ về vào đầu năm 1957. Người bạn chung của chúng tôi là Jerry Ooka đã viết thư cho anh trước đó vài hôm và có nhắc đến tên tôi.
Đây là cuộc viếng thăm đem lại cho tôi niềm phấn khởi lớn lao nhất. Anh bảo tôi rằng anh và một số bạn hữu, đều là cựu sinh viên xuất thân từ các đại học bên Mỹ, vừa thành lập Trường Lam Sơn ở Sài Gòn, chuyên dạy Sinh ngữ và Doanh thương vào buổi tối. Anh nói thêm: “Mời cô tham gia ban giảng huấn nhà trường. Tất cả chúng ta đều có thừa nhiệt huyết và khả năng. Đây cũng là cách giúp chúng ta giữ liên lạc với nhau đồng thời kiếm thêm chút tiền tiêu.”
Sự nhiệt tình của Gs Phó Bá Long lây truyền sang tôi, nâng tinh thần tôi lên. Trước khi từ giã, anh nói thêm: “À, tôi đã nhắc tên cô với Peter Tranlong, người bạn và cũng là đồng nghiệp của tôi ở Công ty Dầu hỏa Stanvac. Anh ấy đồng sáng lập nhà trường và đảm trách về nhân sự. Cứ cho tôi biết khi nào cô có thì giờ thuận tiện, tôi sẽ đưa cô đến văn phòng anh ấy để giới thiệu.”
Như vậy, mọi sự đã được sắp đặt. Tôi chưa bao giờ giảng dạy tại một trường tư. Tôi chưa bao giờ phải đi xin xỏ việc làm, và tôi hình dung ra mấy ngài hiệu trưởng ham lợi thường kỳ vọng rằng đám ​​thầy cô mình thuê mướn sẽ có khả năng làm ảo thuật để duy trì sĩ số học sinh và giúp học sinh giải trí bằng “tài diễu hay", thay vì gieo rắc vào tâm trí học sinh niềm khát khao học tập. Mọi người thấy đó, tôi là một cô giáo trẻ “nghiêm túc”, và có lẽ ngây thơ, thiếu thực tế như vậy đó.
Vào một buổi xế trưa tháng Tám, tôi đến văn phòng Gs Phó bá Long tại tầng trệt Tòa nhà Stanvac. Anh gọi điện thoại cho Peter báo tin tôi sắp lên gặp.
Tôi bước tới gõ cửa văn phòng của Peter ở lầu hai. “Vào đi”, một giọng nói vang lên. Một người đàn ông nhỏ bé trong bộ com-lê doanh nhân trắng, ngồi sau một cái bàn giấy gỗ mun lớn quá khổ, ngước lên nhìn tôi với ánh mắt xoi bói sau cặp kính to dày. Vậy mà tôi cứ tưởng mình đang được chờ đón chớ!
Unbenannt2“Chào anh,” tôi nói bằng tiếng Việt. “Gs Phó Bá Long bảo tôi đến gặp anh để bàn về một chỗ dạy ở trường Lam Sơn. Không biết tôi có đến đúng nơi và gặp đúng người không đây?
Một ánh mắt xác nhận lóe lên, như thể anh vừa sực nhớ ra. Anh chỉ cho tôi một chỗ ngồi ở phía trước bàn giấy. Rồi, với giọng doanh nhân, anh đột ngột bảo: "Được rồi, chúng ta sẽ thực hiện cuộc đối thoại này bằng tiếng Anh nhé?"
Tôi giận ứ hơi. Anh ta biết tôi vừa tốt nghiệp từ một trong những đại học hàng đầu ở Mỹ, và đã dạy Anh văn hơn hai năm tại một trong những trường trung học hàng đầu ở Việt nam. Làm sao anh ta dám nghi ngờ khả năng của tôi chớ? Anh chàng này chẳng thân thiện, chẳng giống Gs Phó Bá Long chút nào. Tôi tự nhủ: "Mình sẽ cho anh ta biết tay. Mình sẽ cho anh ta thấy nếu bỏ lỡ cơ hội mời mình cộng tác thì trường sẽ bị thiệt thòi đến độ nào.” Tôi chưa bao giờ có thói quen rắp tâm “quyến rũ" ai. Tôi vốn khinh thường mấy trò làm duyên, mồi chài, vì tôi luôn tin tưởng rằng chỉ có sự chăm chỉ làm việc và chu toàn nhiệm vụ mới có thể giúp mình đạt được những gì mình muốn. Nhưng với anh chàng này, thì khác. Một lần nữa, tôi tự nhủ: “Anh ta sẽ phải lác mắt trước khả năng của tôi; và sẽ mụ trí khôn trước vẻ quyến rũ của tôi.” Làm sao để thực hiện điều đó thì tôi chưa nghĩ ra, dù một ý tưởng mơ hồ nào. Nhưng tôi quyết sẽ thực hiện điều đó cho bằng được.
Chỉnh lại vạt trước của chiếc áo dài màu hồng nhạt thành một nếp gấp duyên dáng, tôi nhìn thẳng vào mắt anh ta, và bắt đầu nói chuyện bằng tiếng Anh. Anh ta có vẻ chăm chú, hầu như không mỉm cười, tay bám chặt vào ghế của mình.
“Sở dĩ tôi đến gặp anh, như Gs Phó Bá Long đã đề cập, vì tôi được biết ban giảng huấn của nhà trường là một tập hợp gồm những người trẻ, cả nam lẫn nữ, cùng mang hoài bão và chủ trương đem lại cho thế giới những điều mới lạ. Tôi thích dạy tiếng Anh, đặc biệt là lúc này, bởi tôi thấy cần phải thu hẹp khoảng cách giữa hai nền văn hóa mới và cũ của chúng ta. Tôi cũng muốn được sát vai cùng các đồng nghiệp trong công tác giảng dạy này. Bây giờ nếu anh cho biết anh mong đợi nơi tôi những gì, thì chúng ta có thể thảo ra một giáo trình cùng kế hoạch thực hiện."
Tôi không một lời nhắc đến thù lao, làm như đó là mối bận tâm tối thiểu của mình.
Chừng 20 phút sau tôi ra về với lời mời “tạm dạy thử” vài giờ. Vậy là tôi được nhận hay bị từ chối? Nhưng thôi, dù sao tôi cũng đã tận lực rồi. Mà thực sự tôi có muốn chiếm được công việc này không nhỉ? Dĩ nhiên là muốn, nhưng chẳng qua là để chiến thắng cái anh chàng lạnh lùng sắt đá ấy. Hừ! Tôi chỉ muốn làm anh ta tan chảy. Nhưng phải làm gì tiếp theo, thì tôi chưa biết.
Buổi dạy đầu tiên của tôi được sắp xếp vào 6g tối Thứ Hai kế đó. Tôi đã chuẩn bị kỹ bài vở. Tôi dự tính sẽ bắt đầu bài dạy với một số quy luật văn phạm vắn gọn, rồi sau đó sẽ bình luận một đoạn văn ngắn. Theo tôi, một việc quan trọng cần làm là: giúp học sinh tránh xa những câu tiếng Anh bồi (mà trẻ em tại các nước đang bị chiến tranh tàn phá thường học lỏm rất nhanh). Tôi muốn học sinh của tôi có thể viết những câu đơn giản nhưng đúng cách.
Chuông reng. Khoảng 30 học viên thuộc các lứa tuổi, từ mười mấy đến bốn mấy, đứng lên chào tôi với ánh mắt hoài nghi. Tôi đã quen với ánh nhìn đó, từ khi tôi bắt đầu đi dạy năm 19 tuổi (mà dáng dấp trông như mới chỉ 16). Tôi nhanh nhẹn bước đến bục giảng, và ra hiệu cho họ ngồi xuống. Tôi tự giới thiệu mình và sơ lược qua dàn bài sẽ dạy.
Đúng lúc đó, một người bước vô lớp, tiến thẳng đến một cái ghế ở hàng đầu, và gật đầu ra hiệu cho tôi cứ tiếp tục. Cả lớp chợt im bặt, ý thức được sự nghiêm trọng của “cuộc thanh tra” này.
Không ai khác hơn là Peter Tranlong, đang đích thân đến thẩm định khả năng giảng dạy của tôi. Ít nhất là anh ta đã gây cho tôi sự kinh ngạc; vì bình thường, việc kiểm tra chỉ được kín đáo thực hiện bởi một giám sát viên hoặc hiệu trưởng ngồi ở cuối lớp, thận trọng tránh làm phiền lớp học đang diễn tiến và tránh không để ai chú ý đến mình. Được rồi, nếu anh ta quyết định hành xử kiểu đó, thì tôi quyết định phớt lờ anh ta đi và tiếp tục công việc của tôi.
“Cấu trúc câu tiếng Anh rất quan trọng”, tôi bắt đầu giảng. “Hãy tôn trọng trình tự chủ từ - động từ - túc từ. Mẹ đi mua sắm. Chớ không phải: Mua sắm đi mẹ.”
Cả lớp cười khúc khích. Liếc về phía anh chàng ngồi ở hàng đầu, tôi thấy anh ta cũng đang cười toác miệng tới mang tai. Tảng băng đã tan chảy. Chúng tôi sớm có được mối quan hệ bình thường giữa hai người lớn biết điều, cũng có thể sẽ là hai người bạn. Tôi biết tôi đã thắng anh ta, ít nhất là thắng được một chỗ dạy học.
Tôi được thu nhận. Không có gì đáng ngạc nhiên. Chỉ bất ngờ khi anh chàng ngỏ lời xin lái xe đưa tôi về tận nhà. Con gái “nhà lành” đâu bao giờ chấp thuận một lời đề nghị đường đột như vậy! Nhưng mà tôi lại tò mò muốn biết thêm về anh chàng. (Các cháu yêu của Bà ơi, đây chính là cách Ông của các cháu thuyết phục được Bà, khiến Bà tin rằng Ông là đối tượng thích hợp nhất với Bà. Ông thành công, mà không cần tới những lời phát biểu dài dòng hay những đụng chạm thường tình.)
Chúng tôi gặp nhau lần đầu vào tháng 8-1958, đính hôn vào tháng 12, và làm đám cưới vào ngày 1-2-1959.
Một khi đã vượt qua được bước quan trọng nhất, chứng minh cho nhau thấy rằng cả hai không hề buông lỏng đạo đức, không hề sống phóng túng mặc dù đã có cơ hội tiếp xúc với tư tưởng Tây phương, tôi bắt đầu thấu hiểu ý nghĩa sâu sắc và cái duyên ngầm ẩn chứa trong biệt tài hài hước và tự trào một cách thông minh bén nhạy của chàng. Thay vì thực hiện vai trò người "quyến rũ", tôi đã bị "quyến rũ" bởi tấm lòng chàng đầy thẳng thắn, chân thật và từ ái. Có điều, lắm khi tôi cũng chạnh nghĩ đến bản thân rồi thầm nhủ: "Ta phải thay đổi cách suy nghĩ của chàng đôi chút, đặng chàng nhạy bén hơn với thế giới quan của ta nữa chớ."
Ánh-Nguyệt Danielle Tranlong
Tháng Tám 1998


PHOENIX

PHOENIX
(Note: This autobiography is written by Peter Tranlong)
On an early afternoon in August 1958, I was at my desk on the second floor, deeply absorbed in my Stanvac Calendar Paintings Exhibition project, when my phone rang. It was Pho ba Long on the ground floor. He was the Assistant Sales Manager and I was the Public Relations Manager at Standard-Vacuum (Stanvac) Oil Company, Vietnam-Cambodia Division. He wanted me to meet a young lady as a prospective teacher of English at our Lamson Institute of Language and Business. Earlier that year the two of us had founded this evening school as a way to use our spare time in helping the Vietnamese public, young and old, that had an insatiable hunger for learning.
“OK, I’ll see her,” I said, very noncommittal. I had been burned two weeks earlier by one of the prospective teachers. This woman, wife of a famous lawyer and politician in Saigon, had perfect credentials, I thought. She had studied in London and authored an English grammar textbook. I sat in her first teaching session and was very disappointed with her pronunciation. Luckily she was just filling in for another teacher that night. I told her that when there was an opening I would get in touch with her. She was angry and called me a “worming” lowlife.
I answered the knock on my office door and greeted the young lady. She was about to say something in Vietnamese. But I cut her short.Unbenannt1
“I understand that you just came back from the United States,” I said in English.
“Yes, last June I received my B. A. in Literature from Reed College in Portland.”
“Oh, I know that college well. I spent four years in Portland, Oregon, studying at the University of Portland. I went on to my graduate studies at Syracuse University in New York before returning to Vietnam in late 1955.”
“Oh, small world. We were both in Portland. But at different times,” she added, smiling.
Such an infectious smile. And such sparkling big eyes. That was how I first set my eyes on Danielle. She had a gamine look. Her hair, cut so short, suited her so well. I asked what she planned to do now that she was back in Saigon.
“I taught English at Gialong High School before I left for the United States. I’ll rejoin that school next fall. Meanwhile I’d like to teach English in the evening at your school to supplement my income and support my elderly widowed mother.”
I found her conversational English above average and her pronunciation and accent better than most. She seemed a good prospect. Still, I was noncommittal. I was pressed by my PR project, for the Calendar Paintings Exhibition would open in a week. Sitting behind a large desk with my nameplate, wearing a white business suit, and enjoying my air-conditioned office in humid Saigon, I told her in a businesslike tone: “Listen, I’d like you to teach one Intermediate English class on a trial basis next Monday from 7:00 to 9:00 p.m. Afterwards we will discuss the terms of your association with Lamson Institute. I am sorry; I am quite busy right now with this coming art exhibition and a few other projects. So I’ll see you next Monday evening.”
For textbook, I handed her a copy of C. E. Eckersley’s Living English. I saw her to the door.
She came the following Monday evening as expected and I took her to the designated classroom. After introducing her to the thirty-plus students as a veteran teacher of English at Gialong High School who just came back from America with a degree in literature, I sat down on a chair in the third row.
At first, she was nonplused by my presence. Then she looked away from me and started warming up to the task at hand. She did it all: illustrating, gesticulating, articulating. She made her Living English class so alive, was so interactive with her students that I smiled, then I grinned and laughed at her jokes along with the students. She looked straight at me, with a dare. She knew she had me. Hooked!
After that class session I escorted her to my office so that she could complete some administrative papers to formalize her relation with Lamson Institute. As she was about to call a taxi, I offered to give her a ride home.
During the ensuing six months I often gave her rides home and visited her almost every Wednesday afternoon, my working hours being from 7:30 to 11:30 a.m. on that day. I got to know her and her family well. Well enough that we were married within six months, on February 1, 1959. She was twenty-five and I the ripe age of thirty.
According to our years of birth, her mythical bird is the Phoenix and my legendary beast is the Dragon. Both animals, flying dinosaurs in Vietnamese mythology, represent the blissful state of marriage, the perfect union of the female Yin and the male Yang.
By February 1999 we will have been married for forty years. I plan to stick with her for at least another thirty years, God willing, to celebrate our seventieth anniversary. By that time I will be a centenarian.
I believe I hit the jackpot on that fateful day of August. Phoenix and the Dragon have lived felicitously ever after.
Peter Tranlong September 1997


PHƯỢNG HOÀNG
(Ghi chú: Đây là tự truyện do Gs Peter Trần Long viết bằng tiếng Anh. Bản tiếng Việt do Ai Cơ Hoàng Thịnh dịch)
Một buổi xế trưa tháng Tám năm 1958, tôi đang ngồi nơi bàn làm việc ở lầu hai, vùi đầu vào dự án Triển Lãm Tranh Lịch của Stanvac, thì điện thoại reo. Đó là Gs Phó Bá Long gọi từ tầng trệt lên. Gs là Phó Giám đốc Thương mại còn tôi là Giám đốc Giao tế tại Công ty Dầu hỏa Standard-Vacuum (Stanvac), Địa phận Việt-Miên. Gs muốn tôi gặp một cô gái trẻ có triển vọng sẽ trở thành cô giáo Anh văn tại Trường Sinh ngữ và Doanh thương Lam Sơn của chúng tôi. Trước đó, hai chúng tôi đã mở ngôi trường dạy vào buổi tối này với mục đích dùng thì giờ rảnh rỗi của mình để đáp ứng sự khát khao học hỏi của những người Việt nam, trẻ hay già, trong công chúng.
“Vâng, tôi sẽ gặp cô ấy,” tôi nói với giọng không hứa hẹn gì. Bởi hai tuần trước đó, tôi đã quá nản với một trong những “cô giáo tương lai” khác. Bà này là phu nhân một luật sư kiêm chính trị gia tại Saigon, nên tôi ngỡ bà hội đủ các tiêu chuẩn tuyệt vời. Bà lại từng du học bên Luân Đôn và còn là tác giả một cuốn sách giáo khoa về văn phạm tiếng Anh nữa chứ. Nhưng ngay khi dự giờ dạy đầu tiên của bà, tôi đã quá thất vọng về cách bà phát âm tiếng Anh. Cũng may là bà chỉ dạy thế một giáo viên khác trong buổi tối đó. Tôi thoái thác, nói bao giờ mở thêm lớp mới thì sẽ liên lạc với bà. Bà nổi giận, mắng tôi là “quân vô lại”.
Khi nghe tiếng gõ cửa văn phòng mình, tôi ra mở và chào đón cô gái trẻ. Nàng định nói điều gì đó bằng tiếng Việt. Nhưng tôi cắt ngang, nói ngay bằng tiếng Anh:
“Tôi biết cô vừa từ Mỹ về.”
“Vâng, tôi vừa lãnh bằng Cử nhân Văn chương của Reed College tại Portland.”
“Ô, tôi biết rõ trường ấy. Tôi đã sống tại Portland, Oregon bốn năm, và theo học ở Đại học Portland. Tôi tiếp tục học lên ở Đại học Syracuse, New York, trước khi trở về Việt nam vào cuối năm 1955.”
“Ô, trái đất tròn. Chúng ta đều sống ở Portland. Nhưng vào hai thời điểm khác nhau,” nàng mỉm cười phụ họa.

Ôi nụ cười lan tỏa sóng hân hoan. Ôi đôi mắt tròn to lấp lánh. Đó là hình ảnh đầu tiên của Danielle in vào mắt tôi. Nàng mang dáng vẻ xinh xắn láu lỉnh. Mái tóc cắt thật ngắn trông rất hợp với nàng. Tôi hỏi nàng dự định làm gì bây giờ, khi đã về lại Saigon.
“Trước khi đi Mỹ tôi đã dạy Anh văn ở trường Trung học Gia Long. Mùa thu sắp tới tôi sẽ trở lại dạy ở đó. Hiện giờ thì tôi mong được dạy tại trường của ông để có thêm lợi tức và phụ giúp mẹ già góa bụa.”
Tôi thấy trình độ đàm thoại bằng tiếng Anh của nàng vượt trên mức trung bình, phát âm chuẩn và giọng hay hơn hầu hết những người khác. Tuy nhiên, tôi vẫn không muốn hứa hẹn gì cả. Tôi đang căng thẳng với dự án về Giao tế, vì chỉ còn một tuần nữa là cuộc Triển lãm Tranh Lịch sẽ khai mạc. Ngồi sau một bàn giấy lớn có gắn bảng tên mình, mặc bộ com-lê doanh nhân trắng tinh, hưởng không khí mát rượi trong căn phòng có gắn máy điều hòa thay vì cái nóng hầm hập của Saigon, tôi nói với nàng bằng giọng ra chỉ thị: “Nghe đây, tôi cho cô dạy thử một lớp Anh văn Trung cấp vào Thứ Hai tới, từ 7g đến 9g tối. Sau đó chúng ta sẽ thảo luận về các điều kiện liên quan đến sự hợp tác của cô với trường Lam Sơn. Tôi rất tiếc là hiện giờ tôi đang bù đầu với cuộc triển lãm sắp tới và một số dự án khác. Hẹn gặp lại cô tối Thứ Hai tới.”
Tôi đưa cho nàng cuốn Living English của C.E. Eckersley để nàng soạn bài dạy. Tôi tiễn nàng ra cửa.
Như lời hẹn, tối Thứ Hai nàng đến, và tôi dẫn nàng tới lớp đã định. Sau khi giới thiệu với hơn 30 học viên rằng nàng đã từng dạy Anh văn tại trường Gia Long và vừa tốt nghiệp Cử nhân văn chương tại Mỹ về, tôi ngồi xuống một cái ghế ở hàng thứ ba.
Thoạt tiên, nàng bối rối vì sự có mặt của tôi. Rồi nàng không để ý đến tôi nữa và bắt đầu dồn hết tâm trí vào nhiệm vụ trước mắt. Nàng áp dụng đủ mọi phương pháp: minh họa, ra điệu bộ, nói lưu loát. Nàng làm cho lớp Living English thật sống động, thày trò tương tác nhịp nhàng, khiến tôi từ cười mỉm, đến cười toe, rồi cười vang cùng với các học viên trước những câu nói đùa vui nhộn của nàng. Nàng nhìn thẳng vào mặt tôi, vẻ thách thức. Nàng biết đã thu phục được tôi. Cá đã cắn câu!
Sau buổi học, tôi đưa nàng về văn phòng tôi, để nàng làm thủ tục giấy tờ và chính thức trở thành cô giáo của trường Lam Sơn. Khi nàng định gọi taxi, tôi đề nghị lái xe đưa nàng về tận nhà.
Suốt sáu tháng sau đó, tôi thường lái xe đưa nàng về và hầu như chiều Thứ Tư nào cũng đến thăm nàng, vì tôi chỉ phải làm việc từ 7g30 tới 11g30 sáng vào Thứ Tư. Tôi tìm hiểu nàng và gia đình nàng thật rõ; đủ rõ để chỉ vỏn vẹn sáu tháng sau chúng tôi làm đám cưới vào ngày 1-2-1959. Nàng hăm lăm, còn tôi tròn tuổi ba mươi chín chắn.
Theo năm sinh của chúng tôi, loài chim thần thoại tượng trưng cho bản mệnh nàng là Phượng hoàng và loài thú huyền thoại tượng trưng cho bản mệnh tôi là Rồng. Cả hai, vốn là loài khủng long biết bay trong truyền thuyết Việt nam, thường được dùng làm biểu tượng cho hạnh phúc hôn nhân, cho sự kết hợp tuyệt hảo giữa Âm nữ và Dương nam.
Tính đến Tháng Hai năm 1999, chúng tôi đã kết hôn được 40 năm. Tôi dự định sẽ gắn bó với nàng thêm ít nhất 30 năm nữa, nếu đó là ý Chúa, để chúng tôi tổ chức Lễ mừng 70 năm Hôn phối. Bấy giờ tôi sẽ tròn bách tuế.
Tôi tin rằng tôi đã trúng lô độc đắc vào cái ngày Tháng Tám định mệnh ấy. Phượng hoàng cùng Rồng sống hạnh phúc bên nhau suốt đời.
Peter Tranlong
Tháng Chín 1997